
TỨ PHỐI
Tứ phối là bốn vị Thánh được thờ chung với Đức Khổng Tử và được phối hưởng với Đức Khổng Tử mỗi khi có cúng tế.
Tứ phối gồm:
- Nhan Hồi (Nhan Tử), học trò của Đức Khổng Tử.
- Tăng Sâm (Tăng Tử), học trò của Đức Khổng Tử.
- Khổng Cấp (Tử Tư), học trò của Tăng Sâm và là cháu nội của Đức Khổng Tử.
- Mạnh Kha (Mạnh Tử), học trò của Tử Tư.
1. PHỤC THÁNH NHAN TỬ (513 - 482 tcn)
Tự Tử Uyên, cũng thường gọi là Nhan Uyên, người nước Lỗ thời Xuân Thu, học trò của Khổng tử, cùng với Tăng Sâm, được coi là hai học trò xuất sắc nhất của Khổng môn. Nhan Uyên bẩm tính thông minh, hiếu học, nghe một biết mười, chưa từng giận dữ với một ai, không phạm lỗi lầm đến lần thứ hai. Hoàn cảnh túng thiếu, "một nắm cơm, một bầu nước, ở trong ngõ hẹp", Nhan Hồi có tiếng là người an bần lạc đạo, hợp ý Khổng tử trong số các học trò. Người đời sau coi Nhan Hồi là người thừa kế lý tưởng của đạo thống Khổng môn. Nhan Hồi mất khi mới 32 tuổi, được Nho gia suy tôn là bậc "thánh", lại gọi là Phục thánh vì theo sự đánh giá của Khổng tử, Nhan Hồi là người có đức nhân, biết "sửa mình khôi phục lễ" (Khắc kỷ phục lễ vi nhân) được xếp hàng đầu trong Tứ phối.
2. TÔNG THÁNH TĂNG TỬ (505 - 436 tcn)
Tức Tăng Tử, tự Tử Tư, người thành Nam Vũ thời Xuân Thu. Trong số học trò của Khổng tử, Tăng Sâm không phải là người thông minh mẫn tuệ nhất, nhưng hiểu biết cặn kẽ, chắc chắn, lĩnh hội sâu sắc đạo lý xuyên suốt của học thuyết Khổng tử. Đạo "Trung thứ" của Khổng tử được Tăng Sâm phát huy tiếp nối truyền thụ cho Tử Tư. Khi Khổng tử qua đời, Tăng Sâm mới 27 tuổi, tự mình tu dưỡng học vấn, nổi tiếng với câu nói: "Mỗi nhật tam tỉnh ngô thân" (hàng ngày ba lần kiểm xét bản thân mình). Đại học và Hiếu kinh là hai tác phẩm do Tăng Sâm ghi lại lời Khổng tử dạy học trò. Người đời coi học phái Tăng Tử bảo tồn được tinh tuý của học thuyết Khổng tử.
3. THUẬT THÁNH TỬ TƯ
Khổng Cấp, Thuật thánh (492 - 431tcn)
Tự Tử Tư, con của Khổng Lý (tự Bá Ngư). Cháu đích tôn của Khổng tử, học trò của Tăng Sâm. Tử Tư được coi là người thừa kế chính thống của học thuyết Khổng tử. Sách Trung dung do Tử Tư biên soạn là tác phẩm danh tiếng tiêu biểu cho nhân sinh quan của triết học Nho gia. Những lời bình luận của Tử Tư về tâm, tính được coi là tinh tế, có sức gợi mở. Tư tưởng của Tử Tư :"Bất thiên, bất dịch, trung dung chi đạo" (không thiên lệch, không thay đổi, ấy là đạo trung dung) có vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc.Tử Tư từng đi chu du giảng học ở nước Tống, nước Vệ, đem tinh hoa của học thuyết Khổng tử truyền bá rộng khắp, đương thời mến mộ. Nho gia thường gọi Tử Tư là Thuật thánh vì ông là người có công truyền thuật tư tưởng sự nghiệp của Khổng Phu Tử.
4. Á THÁNH MẠNH TỬ (371 - 289tcn)
Thường gọi là Mạnh Tử, tự Tử Dư (trùng tên với Tăng Sâm, vì vậy thường phải kèm theo họ Mạnh để phân biệt). Mạnh Tử người đất Trâu nước Lỗ, thời Chiến quốc, là dòng dõi công tộc Manh tôn, cha mất sớm, mẹ họ Cừu, thường gọi là bà Mạnh Mẫu. Bà là tấm gương mẫu mực của bậc làm mẹ, nổi tiếng vì sự tích muốn dạy con thành người tốt mà ba lần phải dời nhà. Mạnh Kha được thu nhận vào trường học của Tử Tư. Bấy giờ các nước chư hầu của nhà Chu khuynh loát xâm đoạt lẫn nhau, thiên hạ đại loạn, kẻ sĩ bôn tẩu để thực hành mưu kế hợp tung liên hoành. Mạnh Kha chu du đến các nước Tê, Lương, đem hết tâm huyết đề cao đạo đức xã hội thời Đường Ngu tam đại. Mạnh Tử chủ trương thuyết "tính thiện", coi Nhân nghĩa là tiêu chuẩn để phân biệt vương đạo và bá đạo trong đường lối trị nước của kẻ cầm quyền. Ông là đại diện xuất sắc của Nho gia đã nêu cao tư tưởng "Dân vi quý", coi chính sự hà khắc còn hung bạo hơn hổ báo (Hà chính bạo ư hổ). Cũng với quan điểm đó, Mạnh Tử có lập trường lên án chiến tranh, đòi hỏi tầng lớp thống trị phải thực hành đường lối nhân chính. Tác phẩm chủ yếu là tập Mạnh Tử gồm 7 thiên, ghi lại những cuộc biện thuyết hùng hồn của Mạnh Tử, với lời văn nhiều hình ảnh sinh động, có ảnh hưởng lớn trong việc truyền bá phát huy học thuyết của Khổng Phu Tử, được các thế hệ nhà Nho đời sau suy tôn là bậc á Thánh (á là bậc thứ hai)